Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

ĐOÀN KHÁM BỆNH TỪ THIỆN THIÊN ÂN TRONG CHUYẾN ĐI KHÁM BỆNH VÀ PHÁT QUÀ TẠI XÃ BÌNH ĐÔNG, HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG (NGÀY 22/07/2012)


ĐOÀN KHÁM BỆNH TỪ THIỆN THIÊN ÂN ĐẾN XÃ BÌNH ĐỘNG-HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

ĐOÀN ĐÃ TRIỂN KHAI NHANH CÁC KHU VỰC KHÁM CHỮA BỆNH VÀ PHÁT QUÀ
CÁC BÁC SỸ (BS NGỌC-BS DIỄM-BS HOẠT) ĐÃ VÀO VỊ TRÍ KHÁM BỆNH
AI VẬY TA?!!!!.....
SỐ LƯỢNG BỆNH NHÂN VƯỢT QUÁ DỰ KIẾN (TỪ 400 LÊN 900 BỆNH NHÂN)
"LINH HỒN" CỦA ĐOÀN TỪ THIỆN THIÊN ÂN CŨNG XÔNG PHA VÀO TRẬN TUYẾN KHÁM CHỮA BỆNH CHO DÂN NGHÈO TẠI XÃ BÌNH ĐÔNG-HUYỆN BÌNH MINH-VĨNH LONG 
BS DIỄM LÀ NGƯỜI BS TRẺ TRONG ĐOÀN KHÁM 
Thêm chú thích


Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2012

BECAUSE THAT’S YOU!


BECAUSE THAT’S YOU!

Don’t need to know who are you
Don’t need to know where are you
Don’t need to know how is you in future

I love you as thousand cloud, wide sea
I love you as fade winter, end day
Love you as love vast airspace

Don’t need to know long night
Don’t need to know how is thin
I sit here to count the time

Sound lovely rise up as hill-top
As distant return in closing
Love you because only know that is you

So as to from that I love you not hesitate
So as to from that in footsteps sound more near
A day again my heart is clumsy
Every afternoon come, sound so sad

No matter know you and go
No matter know not to wait more
But my heart sound crazy
Sound in me forget feud
Love you because only know that is you

NGƯỜI DỊCH: BS HOẠT

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

MAKE FRIEND WITH YOU !

MAKE FRIEND WITH YOU !

      I have studied english for 5 years and become a bacholor of english in 1998, I have ever been an english teacher for 5 years, my speaking, writing, and reading skill is so good, I have english program of my own and I have ever used it for teaching.

      When I had just overcome difficult examination to enter in medical university of HCM city, I gave up learning english so that I had so much time for studying in medical university, although I would like to speak english so much, I was so afraid of forget all what I studied in lagguage university, so I have done everything to remember what about english. Whenever have any chance for studying and practising english I never let it overcome, for instance I will use english for speaking when I meet a foreigner or someone who like to speak english, I am willing to welcome anyone who like to say or chat on english online and I take that as chance to study english.

        Although I am doctor now, I always use english for looking for document online and translating them into vietnam lagguage, I have taken part in writing article for common medical paper, It take me two days a week for learning english now, furthermore I always write diary on english everyday, I always think that the best way for me not to forget english is to use it for any situation in life.

       For 4 skills, speaking, writing, reading and listening, listening is best difficult skill for anyone who is studying english, and most of the students who are studying english are so afraid of this skill, and I have ever been tired of listening skill, maybe pronunciation is something inportant for listening exactly and then experience in life is so necessary for listening skill, like as studying local english lagguage, trespass into reality life.

        That is reason why I want to make friend with anyone who like to speak english, specialist in foreigner who has just come to vietnam first time, I am willing to help and make guide for him or her visit all about Viet Nam country, and we can talk together on English, I only want to progress my speaking and listening skill without money, I can do everything to help travellers who come to Viet Nam at first time.


Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH VÀNH TIM


BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH VÀNH TIM

Ở các nước phát triển trên Thế giới bệnh lý tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các loại bệnh, đặc biệt là bệnh lý động mạch vành và tăng huyết áp. Theo thống kê tại một số nước như Mỹ, Trung quốc, Việt nam… ngày nay bệnh lý tim mạch tỷ lệ ở nữ nhiều hơn nam giới.
 
I. Bệnh động mạch vành tim:

Bệnh lý động mạch vành tim còn gọi là thiếu máu cơ tim hay thiểu nang vành, Mạch vành tim bị hẹp, tắt chính là yếu tố gây thiếu máu cơ tim mà nguyên nhân có thể do các mảng mở lắng đọng trong lòng động mạch, hoặc do động mạch vành co thắt.

II. Đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh lý động mạch vành tim:

-         Người tuổi trung niên và người già mắc nhiều bệnh mạn tính
-         Người có bệnh lý tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu
-         Người Béo phì
-         Người nghiện thuốc lá
-         Người có tiền sử gia đình, bệnh lý đau ngực và đột tử.

III. Triệu chứng:

          - Cơn đau thắt ngực trái: cơn đau ngực trái thường xuất hiện khi gắng sức, trạng thái quá căng thẳng, thời tiết thay đổi đột ngột…cơn đau co thắt dữ dội như dao đâm, đau lan ra cánh tay, bàn tay trái và ngón út, đau lan ra hàm cảm giác như nghẹn ở cổ. Cơn đau thường kéo dài 5-10 phút, đau có thể giảm khi nghỉ ngơi hoặc sử dụng thuốc.
          - Cơn đau thắt ngực không ổn định: cơ đau không giảm khi nghỉ ngơi và ngay cả khi sử dụng thuốc.

IV. Chẩn đoán:

-         Điện tâm đồ ECG
-         Siêu âm tim
-         X quang tim phổi
-         Men tim (Myoglobulin, CK-MB, Troponin I hoặc T)
-         Chụp động mạch vành cản quang (DSA động mạch vành)
-         CT scan động mạch vành tim
-         Chụp cộng hưởng từ động mạch vành tim.

V. Điểu trị:

-         Áp dụng các phương pháp không dùng thuốc để dự phòng: chế độ nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo giấc ngủ đầy đủ, tập thể dục các môn thể thao nhẹ, vừa phải, tránh gắng sức và thức đêm, giảm cân, ăn uống kiêng các chất béo (trứng, mỡ động vật, da heo, gà, vịt…), không hút thuốc lá.
-         Kiểm soát các yếu tố nguy cơ gây bệnh: điều trị tích cực khi có bệnh lý tăng huyết áp; Kiểm soát bộ mỡ trong máu Cholesterol toàn phần, LDL, HDL, Triglycerid,; Kiểm soát đường huyết.
-         Điều trị nội khoa: thuốc dãn động mạch vành: Nitroglycerin, isosorbide dinitrate; Mononitrate; thuốc ức chế bê ta; thuốc chống cục máu đông: Aspirin; thuốc giảm mỡ trong máu: Lovastatin, atorvastatin, bezafibrozil.
-         Điều trị ngoại khoa: Nong mạch vành và đặt giá đỡ trong lòng mạch vành; phẩu thuật bắt cầu động mạch vành.

Thông tin y khoa:

-         Theo Tổ chức Y tế thới giới, Trung tâm nghiên cứu tim mạch của Viện đại học Delaware Mỹ cho rằng có một loại Protein tự nhiên (JAM-A Protein) có thể chống lại sự hình thành cục máu đông trong máu, và được xem như là một loại protein kiểm soát cơ chế hình thành cục máu đông, nguyên nhân gây ra bệnh lý tắt nghẻn động mạch vành và đột quỵ
-         Thông tin từ Medical News, dùng các loại thuốc kháng viêm Non-steroid như Vioxx, Celebrex, Mobic, Voltaren… có nguy cơ gây bệnh tim mạch cao như: cơn đau ngực, đột quỵ, tăng huyết áp.
-         Theo tổ chức FDA (Food and Drug Aministration) quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ, Thuốc ngừa thai có chứa Drospirenone, một phiên bản tổng hợp của progesterone, dùng trong thời gian dài có nguy cơ cao hình thành cục máu đông trong máu và liên quan đến bệnh đột quỵ.
-         Theo Medical News thuốc điều trị tăng huyết áp Nifedipin nhóm ức chế Calci dùng thời gian dài trên bệnh nhân lớn tuổi có nguy cơ cao gây cơn đau tim và tử vong.
-         Viện đại học tim mạch tại Tiểu bang Michigan ở Mỹ đã nghiên cứu và thấy rằng tinh thể Cholesterol có thể gây ra sự viêm nhiểm trong động mạch vành và gây xơ cứng động mạch.
-         Các nhà khoa học của Trung tâm nghiên cứu sức khoẻ Texas tại Mỹ đã khám phá ra một loại Gen đơn khiếm khuyết (sự đột biến các sợi cơ trơn Alpha-Actin (ACTA2)) có thể dẫn đến cơn đột quỵ, bệnh lý động mạch chủ và động mạch vành tim.
-         Viện đại học sức khoẻ Chicago ở Mỹ đã nghiên cứu trên một nhóm người tự nguyện về giấc ngũ, và kết luận rằng giấc ngũ không sâu, ngắt quãng, hay giấc ngũ quá ít dưới 5 giờ/ngày thì có những dấu hiệu phát sinh về bệnh lý động mạch vành.

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

UNG THƯ PHỔI

I. UNG THƯ PHỔI LÀ GÌ ?
Ung thư phổi thường gặp ở nam giới, tần suất bệnh ở nam cao hơn gấp 5 lần so với nữ, thường gặp ở lứa tuổi 55-65, và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư.

Ung thư phổi bao gồm vào 2 loại chính sau :

+ Ung thư phổi tế bào nhỏ : là loại ung thư phổi phát triển rất nhanh và lan rộng theo dòng máu đi đến nhiều bộ phận khác của cơ thể, thường khi phát hiện thì bệnh đã tiến triển nặng, và phương pháp ngoại khoa không được sử dụng mà thường dùng phương pháp hoá trị liệu để điều trị.

+ Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ : là loại ung thư phổi phổ biến hơn, ít cấp tính hơn là loại ung thư phổi tế bào nhỏ, ung thư loại này có chiều hướng phát triển chậm hơn, nếu như được phát hiện sớm thì quá trình phẩu thuật, xạ trị và hoá trị cho một kết quả điều trị tốt.

Ung thư phổi bắt nguồn từ những mô của phổi, thường từ những lớp tế bào mà không khí đi qua. Hai loại ung thư phổi đó là ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, hai loại ung thư phổi này được chẩn đoán vả phân loại dựa trên quan sát qua kính hiển vi. Trên 80% là loại ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.

II. NGUYÊN NHÂN :

Thực sự các Bác sỹ không giải thích được tại sao người này lại phát triển bệnh ung thư phổi còn người kia thì không, và Bác sỹ chỉ biết được rằng người này thì có nhiều yếu tố nguy cơ phát sinh bệnh lý ung thư phổi hơn là người khác.

Hút thuốc là yếu tốt quan trọng và là nguy cơ lớn nhất gây ra bệnh lý ung thư phổi, người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi gấp 13 lần so với người không hút thuốc, trên 80% những người ung thư phổi trên thới giới là những người hút thuốc lá.

Những yếu tố nguy cơ khác có thể gây ung thư phổi : chất phóng xạ, chất Ami-ăng, Thạch tín, Crom, Niken và sự ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn có nền công nghiệp phát triển. Ngoài ra ung thư phổi cũng có tính chất gia đình.

III. TRIỆU CHỨNG :
Phần lớn ung thư phổi được phát hiện tình cờ do bệnh nhân có những triệu chứng bất ổn đến khám Bác sỹ.

Đối với giai đoạn sớm thì ung thư phổi không có triệu chứng, nhưng khi ung thư đã phát triển thì các triệu chứng biểu hiện như sau :

+ Ho nặng, kéo dài và không dứt
+ Hơi thở không bình thường, Thở ngắn.
+ Đau ngực liên tục.
+ Ho ra máu.
+ Khàn tiếng
+ Viêm nhiễm hô hấp thường xuyên, viêm phổi
+ Mệt mỏi kéo dài
+ Sụt cân không rõ nguyên nhân.

Hầu hết các triệu chứng này có liên quan đến bệnh ung thư phổi, và những bệnh lý khác cũng có thể gây ra các triệu chứng này, tốt nhất bệnh nhân nên sớm đi khám Bác sỹ để được khám, chẩn đoán sớm và có phương pháp điều trị kịp thời.

IV. DI CĂN TRONG UNG THƯ PHỔI :

+ Di căn xa ngoài lồng ngực : gan, xương, máu, tủy xương, não...
+ Di căn hạch trung thất, thượng đòn
+ Di căn sang bên phổi đối diện
+ Di căn đến thân động mạch phổi

V. CHẨN ĐOÁN :

Nếu có những triệu chứng được nghi ngờ là ung thư phổi, chúng ta phải đến Bác sỹ để được tư vấn và làm các xét nghiệm chẩn đoán xác định bệnh lý ung thư phổi.

+ X quang lồng ngực
+ CT (Scan) phổi
+ Xét nghiệm đàm tìm tế bào ác tính
+ Sinh thiết phổi, hạch
+ Nội Soi Phế quản, nội soi trung thất

VI. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI :

+ Phẩu thuật : là phương pháp điều trị tốt nhất, tuy nhiên còn phải đánh giá và phân loại ung thư phổi, ung thư phổi tế bào nhỏ, hay không phải tế bào nhỏ, phận loại giai đoạn ung thư phổi... để quyết định khả năng thành công của phương pháp phẩu thuật.
+ Xạ trị : là phương pháp dùng những tia có năng lượng cao để giết chết tế bào ung thư, chính vì vậy có thể giết chết những tế bào bình thường ở khu vực xung quanh. Thất bại của phương pháp xạ trị khi khối u không nhỏ lại mà lan chổ khác trong cơ thể.
+ Hóa trị : là phương pháp dùng các loại thuốc kháng ung thư để giết chết tế bào ung thư, các loại thuốc này lưu thông trong dòng máu và có thể tác dụng vào các tế bào ung thư trên khắp cơ thể.
+ Phối hợp trong điều trị ung thư phổi : sau phẩu thuật khối u ở phổi thường phối hợp xạ trị và hóa trị để hoàn tất và cải thiện dự hậu cho bệnh nhân. Xạ trị sau phẩu thuật với mục đích tiêu diệt toàn bộ các tế bào ung thư, hóa trị với mục tiêu điều trị các phần u trong phổi và các nơi đã di căn.
+ Điều trị miễn dịch : kết quả chưa rõ và còn đang được nghiên cứu.
+ Điều trị bằng thuốc y sinh học : đây là một phương pháp mới trong điều trị mang lại nhiều kết quả tốt, đặc biệt là trong bệnh lý ung thư phổi, tuy nhiên giá thuốc còn quá cao.
+ Điều trị bằng đông y: có rất nhiều bài thuốc đông y dùng điều trị bệnh ung thư phổi, nhưng đến nay cũng chưa có bài thuốc nào được chứng minh. Thuốc đông y có tác dụng hỗ trợ cho bệnh nhân ung thư đã được phẩu thuật, nên kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền để hỗ trợ, khắc phục những tác dụng phụ của hoá trị hoặc xạ trị như: nôn, tiêu chảy, đau và suy kiệt…để nâng cao sức đề kháng và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân sau phẩu thuật.

Kết quả điều trị ung thư phổi còn rất hạn chế, phẩu thuật cắt bỏ khối u trong phổi vẫn là phương pháp duy nhất có thể cho bệnh nhân thời gian sống trên 5 năm, nếu phối hợp thêm phương pháp xạ trị và hóa trị thì kết quả sẽ kéo dài hơn.

THÔNG TIN TỪ MEDICAL NEWS
+ Ăn trái cây làm giảm bớt nguy cơ ung thư phổi, ăn nhiều loại trái cây khác nhau mỗi ngày có thể làm giảm đi 30% nguy cơ gây ung thư phổi.

+ Uống rượu vang đỏ ở mức hợp lý có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi.

+ Khí thảy ra từ các loại động cơ sử dụng dầu Điêzen loại nặng có nguy cơ làm tăng khả năng tử vong ở người bệnh ung thư phổi.

+ Một loại thuốc mới đã được các nhà khoa học tìm ra gần đây, ứng dụng công nghệ sinh học phân tử, một dãy hoạt động của Enzyme IKK2 có tác động kích thích phản ứng viêm của cơ thể, làm chậm đi sự phát triển khối u ác tính ở phổi và kéo dài thời gian sống.

+ Thống kê trên những người dân có thói quen tắm nắng, và những người ít phơi nắng, người ta nhận thấy tỷ lệ mắc bệnh ung thư phổi ở những người thích tắm nắng thấp hơn những người thường xuyên ở nhà và không thích phơi nắng.

+ Xét nghiệm Gen ở khối u phổi có thể tiên lượng được dự hậu sau phẩu thuật ngoại khoa, một thử nghiệm đo lường hoạt động của 14 gen trong khối u phổi, sẽ có thể tiên lượng trước được bệnh nhân nào có phản ứng tốt với phẩu thuật, và bệnh nhân nào có khả năng tử vong trong vòng 5 năm.

+ Vitamin B6 với hàm lượng cao trong máu có giúp giảm ½ nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi.

+ Đậu nành ngoài tác dụng phòng chống bệnh ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, còn có tác dụng phòng tránh được bệnh ung thư phổi.





Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

HAVEN'T EVER BEEN CALLED FATHER !

                I don't know how to say so as to express feeling of a son without father, because when I was born father died, someone said that I was a son who was not luck for family, who only had troublesome, who made mother so sad at that time.
               I growth up and when I have enough ability to understand of life, I was sad at hearing of what everyone said, I was unlucky-child but I wonder that is reason I cause for my family!?, I was not only unhappy but also boring, 
               Up to when i have been got married, my father-in law had died, and I was countinous to become unluck son without father, I was really so sad I didn't blame everyone who said bad words to me, I only known that I balmed myself why I was in bad-situation.
               I wish I had a father, If I had a father my life could become better now, when I graduated from high school I was good pupil in school, I was very strong to study everything, I could overcome all things difficult, I was pround of my ability and I was always Idol for everyone in school, but I was too young to awake to something best for myself in life, on the other hands my selt-love was so hight, there were something small to happen with me, I only wanted to given up everything, like as what the people often said the youth is always ebullient, they could given up all because of small problem, and I was a son who is very selt-love, that was a reason why my life had big change at that time, I always supported that I could have the best examination to graduate from high school before I entered in university, and then I always hoped that I could win stop-point in school, but everything was not in my thought because of I had careless in literature subject in examination and my poit was so slow although the other's subject was perfectly in graduated-examination from high school, and there were not things to happen right in my wish, I felt so disappionted, I gave up everything without taking part in examination of university, no matter I had enough ability to overcome university-Examination at that time. Mother, brothers and sisters, who weren't interested in my studying, thoughts, who didn't know how was my studying and feeling, who didn't have any advises for me, so I wish I had father at that time, I wish He was always by me and could give me harder to take me go into best way, he could give me the best direction for future,  A father like as guideline who direct children in best path in life, father is idol for children in family to follow, father like as big tree for children in the shade, like as steel to get children in best life...
               Mother is only women who take care of me googly, who give me eating, sleeping and dressing in best way, I love mother so much, but so as to face with life and trend to future I had to go and faced with studying alone without any helping from family except some money, things that i need was encouraging and direction in this time, but everything seems to be not ok for me, A dream to become good and famouse doctor who work in big hospital in HCM City was more and more far from my reach.
               Up to now I am really to become a doctor, I have bacholor of english language I graduated from both medical and language universities, no matter I have everything I like but it is not really dream of me when I was young, I really feel regret what overcome now, my way to become a doctor is so misery and it took me so much time and effort! and result is not perfectly, I never feel satisfy with myselt, I never blame my mother, or anyone in my family, I only want to say a word I wish to have a father, a father who only need to stand there, who has super for me in way of life, who make me afraid of faults, who direct me to go into beautiful future.

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

THÔNG TƯ 41/2011/ TT-BYT BAN HÀNH 14/11/2011 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN LUẬT KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

ĐỀ NGHỊ CÁC BẠN CÓ THỀ VÀO LẤY FILE THÔNG TƯ 41 VÀ NGHỊ ĐỊNH 87 THEO ĐỊA CHỈ
                                   YTETUNHAN@YAHOO.COM.VN  -   PASSWORD: 39434595

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

KHÁM BỆNH TỪ THIỆN TẠI HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG (30/10/2011)

ĐOÀN KHÁM BỆNH TỪ THIỆN THIÊN ÂN QUẬN 4

NGAY TỪ SÁNG SỚM ĐÃ CÓ RẤT NHIỀU  BỆNH NHÂN TẬP TRUNG TẠI PHÒNG KHÁM ĐA KHOA KHU VỰC HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG


Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

KHOAI TÂY GIÚP GIẢM BÉO


MỘT NGHIÊN CỨU MỚI CHO RẰNG KHOAI TÂY LÀ MỘT PHẦN CỦA CHẾ ĐỘ ĂN KIÊNG ĐỂ GIẢM BÉO

     Một nghiên cứu mới vừa được phát hành bởi Trường Đại học California và Trung tâm quốc gia về Kỹ thuật và An toàn thực phẩm, và Viện kỹ thuật sinh học Mỹ đã chứng minh rằng: con người có thể thêm khoai tây vào chế độ ăn kiêng và có thể làm giảm cân tiếp tục trong chế độ ăn kiêng. Nghiên cứu này đã được giới thiệu ở Hội nghị khoa học thường lệ lần thứ 28 về tình hình béo phì trong xạ hội, từ ngày 8-12 tháng 10/2010 tại Mỹ.
     Nghiên cứu đưa ra một số thông tin mới hơn về vai trò của khoai tây và chỉ số glycemic trong việc giảm cân, rất nhiều thắc mắc về khoai tây và cuối cùng có sự kết luận chung xem khoai tây như là một loại rau quả có chỉ số glycemic rất cao dùng trong chế độ ăn kiêng rất tốt.
     Kết quả của nghiên cứu này xác nhận những gì mà các chuyên gia vể sức khỏe và dinh dưỡng đã nói nhiều năm trước đó, khoai tây góp phần vào quá trình giảm cân, giảm lượng calori mà có thể tính được, tuy nhiên nó không phải là hoàn toàn.
     Các nhà nghiên cứu đã thực hiện thí nghiệm trên 86 người đàn ông và đàn bà quá cân trong thời gian 12 tuần lễ, để đo lường hiệu quả của chế độ ăn kiêng giảm calo và chỉ số glycemic xác định bằng cách thêm khoai tây vào chế độ ăn kiêng. Người tham gia vào thí nghiệm được chia ngẩu nhiên thành 3 nhóm và mỗi nhóm có 1 chế độ ăn kiêng và thêm vào chế độ ăn kiêng 5 đến 7 lượt ăn khoai tây trong tuần. Kết quả xác nhận rằng tất cả 3 nhóm đều giảm cân.
     Nhóm thứ nhất cho một danh sách thức ăn có chỉ số glycemic thấp bao gồm trong chế độ ăn kiêng hàng ngày của họ. Nhóm thứ hai cho một danh sách thức ăn với chỉ số glycemic cao trong chế độ ăn kiêng hàng ngày. Cả hai nhóm này giảm đi 500 calo thu nhập vào cơ thể mỗi ngày bằng chế độ ăn 5 đến 7 lần khoai tây mỗi tuần. Tất cả những người tham gia được hướng dẫn và ghi nhận bởi chuyên gia ăn kiêng và chỉ ăn theo danh sách thức ăn cho sẵn, những thức ăn là khoai tây. Những người tham gia vào nhóm thí nghiệm thứ 3, gọi là nhóm tự chủ, và được phép chọn những thức ăn hàng ngày và số lượng calo vào cơ thể của chính họ, nhưng được khuyến khích ở đây là chế độ ăn kiêng thành công của người Mỹ và theo hướng dẫn bằng tháp đồ dinh dưỡng. Yêu cầu giống nhau của nhóm thứ 3 và 2 nhóm kia là phải ăn 5 đến 7 lần khoai tây mỗi tuần. Tất cả các nhóm tham gia thí nghiệm được cung cấp công thức và tư vấn theo chế độ ăn kiêng rất thành công. Kết quả xác nhận rằng tất cả 3 nhóm đều giảm cân và không có sự khác biệt đáng kể nào trong vấn đề giảm cân giữa nhóm có chỉ số glycemic cao và thấp. Điều này xác nhận rằng lượng glycemic trong khoai tây rất cao nhưng không ảnh hưởng gì đến chế độ ăn kiêng mặt khác khoai tây rất có hiệu quả trong mục tiêu giảm cân.
     Đây là tin tức tốt lành cho những người thích khoai tây và những khách hàng có sự quan tâm đến các loại thức ăn tốt cho sức khỏe. Một bịch khoai tây 30g chỉ chứa 110 calo, 45% lượng vitamin c hàng ngày và không có chứa mỡ, Sodium hay Cholesterol.
     Ngày nay Bộ phát triển nông nghiệp Mỹ đã công nhận: khoai tây là thực phẩm nên được khuyến khích trong chế độ ăn giảm cân và giử một vai trò quan trọng trong chương trình giảm cân bảo vệ sức khỏe.


NGƯỜI DỊCH: Bs Nguyễn Đức Hoạt
Theo Medical News


Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH

DẠNG RỐI LOẠN TIÊU HÓA ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SỐNG.
        Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn chức năng của đường tiêu hóa, không có tổn thương thực thể hay rối loạn sinh học, còn gọi là hội chứng đại tràng kích thích, đại tràng bị co thắt. Đây là một bệnh lý khá phổ biến ngày nay trên thế giới cũng như tại việt nam hiện nay, thường gặp ở lứa tuổi 30-60 và nữ nhiều hơn nam, người dễ mắc bệnh là những người có rối thần kinh chức năng như: lo lắng, căng thẳng, u uất, trầm cảm, lãnh cảm, …bệnh không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng thường xuyên tái phát gây khó chịu và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, trong khi chi phí điều trị rất tốn kém mà hiệu quả lại hạn chế.
1. Triệu chứng: Đau bụng, trướng bụng, rối loạn đi cầu táo bón hoặc tiêu chảy, ngoài ra còn các triệu chứng ngoài đường tiêu hóa như: tiểu khó, tiểu gấp, rối loạn kinh nguyệt, đau cơ đau lưng, nhức đầu, mất ngũ, dị cảm, chóng mặt, mệt mỏi, hồi hộp đau ngực…

Đặc điểm của đau bụng, tiêu chảy và táo bón trong hội chứng ruột kích thích
Đau bụng: Là triệu chứng chủ yếu của hội chứng ruột kích thích, đau cảm giác nặng bụng, chướng bụng, đầy hơi, đau tăng khi cảm giác căng thẳng hoặc mệt nhọc, giảm đau khi nghỉ ngơi, đặc biệt là cảm giác đau bụng khó chịu sẽ bớt hoàn toàn sau khi đại tiện, trung tiện.

Đại tiện: Phân thay đổi hình dạng, lổn nhổn, nhảo, lỏng hoặc nhày; bất thường về số lần đi cầu > 3 lần/ngày hoặc < 3 lần/tuần, cảm giác mỗi lần đại tiện mót rặn, không hết phân; cảm giác muốn đi cầu xuất hiện ngay sau khi ăn.

Lưu ý:

       Các triệu chứng của hội chứng ruột kích thích, giai đoạn đầu còn là những rối loạn về chức năng, ruột già tăng kích thích, nhưng khi thấy có các triệu chứng: đi cầu mót rặn, đau vùng hậu môn, phân đàm máu, người sốt, bạch cầu tăng và tốc độ lắng máu tăng, thiếu máu. Thì báo động đây là bệnh lý tổn thương thực thể ở ruột già.

     Những thuốc dùng thường xuyên có ảnh hưởng đến thói quen đại tiện: Gây táo bón là thuốc có Á phiện, thuốc chống trầm cảm, kháng Cholinergic, ức chế Canxi, Phenolbarbital, Aminazine…Gây tiêu chảy là các loại kháng sinh, thuốc nhuận trường, Sorbitol, thuốc kháng viêm không Steroid…

2. Điều trị: Chủ yếu là điều trị triệu chứng gây khó chịu ảnh hưởng đến sinh hoạt và làm việc của người bệnh, tùy vào triệu chứng nổi trội ở mỗi bệnh nhân khác nhau. Đây là một bệnh thường hay tái phát, điều trị thật sự khó khăn và hiệu quả hạn chế, mục tiêu điều trị là làm giảm triệu chứng, chính vì vậy bệnh nhân thường lo lắng, cần phải có sự phối hợp giữa bệnh nhân và thầy thuốc.
Chế độ ăn uống và sinh hoạt:
Tránh không ăn các loại thực phẩm, đồ ăn và nước uống có nhiều nguy cơ như: thức ăn không rõ nguồn gốc, thức ăn chế biến sẵn ngoài đường phố, thức ăn bị ôi thiu và nhiễm hóa chất độc hại.

        Bệnh nhân quan tâm và phát hiện các loại thức ăn nào thường “không dung nạp”, hay gây tiêu chảy và đau bụng (ví dụ như thức ăn nhiều dầu mỡ, rau sống, bơ, sữa tươi…) và tự họ phải hạn chế bớt các loại thức ăn đó.

        Đối với trường hợp táo bón thường xuyên, cần khuyên bệnh nhân uống nhiều nước, ăn thêm chất xơ, rau quả tươi nhuận trường như: đu đủ, chuối, khoai lang... Tránh các thức ăn như: cá khô, các loại mắm, không ăn các gia vị cay, nóng...

        Nên hoạt động thể lực, hạn chế ngồi nhiều một chỗ, tránh bớt các căng thẳng về thần kinh…

Thuốc điều trị triệu chứng:
Thuốc chống co thắt: làm giảm đau bụng như atropin, trimebutine, primperan, papaverin, buscopan…

Thuốc chống đầy hơi trướng bụng: Normogastryl, carbongastryl…

Thuốc chống tiêu chảy: loperamide, diphenoxylate, cholestyramine… các thuốc này làm giảm chuyển vận của ruột.

Thuốc nhuận trường: lactulose, sorbitol, methyl cellulose, bisacodyl…

Thuốc bảo vệ niêm mạc ruột: diosmectite, attapulgite mormoiron, bismuth … có hiệu quả che chở niêm mạc ruột, hấp phụ các độc tố.

Các vi khuẩn thay thế : Lactobacillus acidophilus, Saccharomyces boulardii… có tác dụng khôi phục lại sự cân bằng của vi khuẩn đường ruột.

3. Những thông tin mới từ Medical News:

         Nguyên nhân gây ra hội chứng ruột kích thích không rõ, vì vậy các phương pháp điều trị đều có chung một mục tiêu là làm giảm đi các triệu chứng gây khó chịu cho bệnh nhân, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống. Một nghiên cứu mới đây của Viện đại học Y khoa Canada thấy rằng có sự thay đổi về mặt cấu trúc não ở những bệnh nhân có hội chứng ruột kích thích, mật độ chất xám có thể tăng lên hoặc giảm xuống ở các khu vực điều khiển xúc cảm, ngăn chặn cảm giác đau và quá trình thông tin cảm giác nội tạng.

          Hội chứng ruột kích thích được xem là một rối loạn tiêu hóa chức năng, các triệu chứng thường xuyên tái lại và càng nặng hơn khi bệnh nhân trong trạng thái căng thẳng. Các triệu chứng này có thể được điều khiển và giảm đi bằng cách chính bản thân bệnh nhân quản lý được trạng thái tâm lý của mình, thay đổi cách sống, tránh căng thẳng, nghỉ ngơi và thư giản hợp lý.

         Thực hiện chế độ ăn kiêng một số thức ăn như: Chocolate, sữa, rượu, bia, thịt mỡ, các loại thức uống có carbonate…có thể gây tiêu chảy hay táo bón. Tùy vào tính dung nạp thức ăn của mỗi người, chính bản thân người bệnh phải quan tâm để biết được những thức ăn nào gây tiêu chảy cho mình và có thể tránh.

          Các triệu chứng gây khó chịu của hội chứng ruột kích thích có thể được cải thiện và giảm nhiều bằng cách Tập thể dục, vận động cơ thể mỗi lần 20-30 phút, 5 lần trong một tuần. Điều này đã được nghiên cứu và chứng minh trên thực tế 102 bệnh nhân có hội chứng ruột kích thích, độ tuổi từ 18-65 tại bệnh viện Sahlgrenska thuộc trường đại học y khoa Thụy Điển.

           Theo tạp chí chuyên đề Y học NEJM (New England Journal of Medicine). Trong giai đoạn rối loạn chức năng ruột chuyển sang các dấu hiệu và triệu chứng của tổn thương thực thể. Một loại kháng sinh có tên là Rifaximin được nghiên cứu, dùng Rifaximin 550mg, mỗi lần 1 viên × 3 lần/ngày trong vòng 2 tuần, kết quả rất tốt, giảm nhiều triệu chứng của hội chứng ruột kích thích và cải thiện hoàn toàn các triệu chứng gây khó chịu cho bệnh nhân 10 tuần sau đó kể từ ngày dừng thuốc kháng sinh.

Bs Nguyễn Đức Hoạt
(Phòng y tế quận 4)

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

“TIÊU CHẢY” ĐÃ TỪNG ĐE DỌA TRỞ THÀNH “ ĐẠI DỊCH”

          Theo sự thông báo của tổ chức y tế thế giới (WHO), và Qủy nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF). Mặc dù chúng ta đang có những phương pháp điều trị đáp ứng kịp thời bệnh lý tiêu chảy, bệnh tiêu chảy vẫn là kẻ thù lớn nhất giết chết trẻ em nhiều hơn là bệnh lý AIDS, sốt rét và sỡi.
         Theo giám đốc điều hành quỷ nhi đồng liên hiệp quốc. tiêu chảy thật sự là một thảm họa, đang phát triển mạnh trên thế giới và gây rất nhiều sự thảm họa, dự đoán có 1,5 triệu trẻ em chết vì bệnh tiêu chảy mỗi năm. Những phương pháp điều trị tiêu chảy hiệu quả và ít tốn tiền như chúng ta biết, nhưng chỉ có 39% trẻ em tiêu chảy nhận được phương pháp điều trị theo yêu cầu.
          Tổng thư ký tổ chức y tế thế giới, Bác sỹ Margaret Chan nói: chúng tôi biết nơi nào là những đứa đang bị tiêu chảy hoành hành đến tử vong, chúng tôi biết chúng tôi phải làm gì để ngăn cản những cái chết đó, và chúng tôi phải làm việc với chính phủ và những thành phần tham gia và đưa kế hoạch chiến lược có 7 mục tiêu vào các hoạt động.
          Tiêu chảy là bệnh lý chung về nhiễm trùng đường ruột mà thật sự có rất nhiều nguồn xuất phát khác nhau. Và chỉ có một số ít tổ chức có trách nhiệm quan tâm đến những trường hợp tiêu chảy cấp. Một loại vaccin mới phòng chống tiêu chảy cấp do Rotavirus rất an toàn và có hiệu quả trong việc phòng chống bệnh lý tiêu chảy cấp đã được sử dụng tại các bệnh viện cho trẻ em. Nhưng chưa được triển khai nhiều ở hầu hết các quốc gia đang phát triển.
           Những trường hợp tiêu chảy cấp dẫn đến tình trạng mất nước và chính sự mất nước này dẫn đến tử vong nhanh chóng trừ khi lượng nước được bù lại trong cơ thể một cách nhanh chóng, áp dụng cách bù nước, muối, và điện giải qua đường uống là phương pháp rẻ tiền và dể thực hiện nhất.
           Tỷ lệ 88% chết do tiêu chảy là liên quan đến vấn đề nguồn nước sử dụng không an toàn, hệ thống xử lý chất thải không hợp vệ sinh, và tình trạng vệ sinh cá nhân không tốt. vào năm 2006 dự đoán 2,5 tỷ người trên thế giới không sử dụng phương tiện xử lý rác thải hợp vệ sinh.

 
Có 5 loại tiêu chảy


             1. Tiêu chảy do kích thích bài tiết: tình trạng ruột bị tăng kích thích, gây rối loạn sự hấp thu các chất qua thành ruột, trong nhiều trường hợp tăng kích thích ruột ít thấy có sự hư hại về cấu trúc ruột. đây cũng là một trường hợp do độc khuẩn của vi khuẩn cholera tiết ra, một loại protein độc gây tăng kích thành ruột.
            2. Tiêu chảy do rối loạn hấp thu: rất nhiều nước được tiết vào thành ruột. đây có thể là kết quả của bệnh không hấp thu gluten, bệnh lý tuyến tụy, hay thuốc nhuận trường. và có nhiều chất không hấp thu như: magie, vitamin C, dường fructose, lactose…

            3. Tiêu chảy do tăng nhu động ruột: thức ăn được co bóp và vận chuyển quá nhanh trong lòng ruột, không đủ thời gian để ruột hấp thu chất dinh dưỡng và nước. nước tăng nhiều trong lòng ruột chính là nguyên nhân gây tiêu chảy.

            4. Tiêu chảy do nhiểm trùng: thành ruột bị viêm nhiểm, thường nhất là do các loại virus, rồi ký sinh trùng, bệnh lý hệ miễn dịch, lao, ung thư…
            5. Tiêu chảy do lỵ: đi cầu ra máu kèm những đợt tiêu chảy, nguyên nhân gây ra bởi các loại vi khuẩn đường ruột như: Shigella, Entamoeba Histolytica, và salmonela.


Nguyên nhân của tiêu chảy cấp:


- Phần lớn là do virus, Norovirus hay Rotavirus, ngoài ra cũng do virus viêm gan, herpes virus.
- Do vi khuẩn (campylobacter, salmonella, shigella va E. coli) và ký sinh trùng (Giardia Lambia và Cryptosporidium).
- Một số nguyên nhân khác cũng có thể gây tiêu chảy cấp: trạng thái căng thẳng lo lắng, uống nhiều bia rượu, uống nhiều cà phê, một số loại thuốc.
- Do kháng sinh: uống nhiều kháng sinh gây tình trạng rối loạn khuẩn đường ruột, mất cân bằng tự nhiên trong thành ruột dẫn đến tiêu chảy cấp, viêm nhiểm và thường thấy do vi khuẩn Clostridium Difficle.


Nguyên nhân tiêu chảy mạn


- Do vi khuẩn, virus, thuốc nhuận trường, thói quen ăn uống,
- Một số điều kiện có tính chất kéo dài như: bệnh lý kém hấp thu, tiểu đường, hội chứng kích thích ruột, mất cân bằng lactose, bệnh lý tuyến tụy. viên đại tràng mạn.
Tổ chức y tế thế giới đã có kế hoạch lớn bao gồm 2 hướng điều trị và 5 phương pháp dự phòng:


2 Phương pháp xử trí:
                 1. Bù nước mất do tiêu chảy


                 2. Sử dụng kẽm để giảm đi tính cấp của tình trạng tiêu chảy.
5 phương pháp dự phòng:

                 1. Tạo miển dịch chống lại Rotavirus và sỡi

                 2. Không bú và hỗ trợ vitamin A.

                 3. Rữa tay bằng xà phòng

                4. Sử dụng nguồn nước máy đạt chất lượng

                5. Phát triển và nâng cấp hệ thống xử lý chất thải (nước và rác)

Những điều nên làm khi bị tiêu chảy


- Uống nhiều nước (nếu có thể); dùng các loại nước bổ sung muối, đường và các chất điện giải (oresol, hydrite…)

- Ăn bình thường với những thức ăn dể tiêu: cháo, bánh mì, cơm, mì, khoai tây. Không ăn những thức ăn không có nhiều mỡ.

- Uống thuốc: Những loại thuốc làm tăng sự hấp thu nước qua thành ruột. làm chậm sự vận chuyển trong lòng ruột (loperamide); uống các loại bổ xung men đường ruột (antibio, probio, lacterol, lactomin…). Không nên dùng thuốc cầm tiêu chảy trong giai đoạn đầu, các chất độc lưu lại trong ruột gây tình trạng nhiểm trùng tiêu hóa nặng hơn.

- Vẫn cho trẻ bú sữa, uống sữa bình thường.


BS Nguyễn Đức Hoạt
(Phòng y tế quận 4)

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

TRÀ XANH CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC BỆNH VIÊM DA

     Các nhà nghiên cứu của Trường Y khoa Georgia ở Mỹ cho rằng trà xanh cho chúng ta môt hy vọng lớn trong tương lai về tác dụng điều trị được một số bệnh lý viêm da như bệnh vẩy nến và gàu trên da đầu của chúng ta.
     Nghiên cứu trên những vật nuôi trong nhà, một số bệnh lý viêm nhiễm da có đặc điểm như: da khô, đỏ, dầy đóng thành từng mảng mà nguyên nhân gây ra bởi sự viêm nhiễm và sự tăng sinh quá mức của tế bào. Bằng liệu pháp trà xanh đã cho chúng ta thấy được sự phát triển chậm hơn của các tế bào da và có sự hiện hữu của một loại Gen có thể điều khiển chu kỳ sống của tế bào da.
     “Vẩy nến” là một bệnh lý tự miễn, các tế bào tự miễn này có tính chất chống lại sự viêm nhiễm tại tế bào da và làm cho các tế bào da phát triển ngoài tầm kiểm soát dẫn đến da dầy lên. Trong bệnh lý vẩy nến, những tế bào miễn dịch chống lại sự truyền nhiễm bệnh, thay vì phải giải thoát và phóng thích các tế bào Cytokines mà là nguyên nhân gây ra sự viêm nhiễm và sản sinh quá mức của tế bào.
      Trà xanh thực sự đã ngăn chặn được sự viêm nhiễm, và có tính chất điều khiển một loại Protein trong Gen mà có thể tác động đến chu kỳ sống của tế bào, và làm giảm đi những những kháng thể hạt nhân tế bào tăng sinh (PCNA) là một loại kháng thể làm cho tế bào da phát triển quá mức trong bệnh lý vẩy nến. Nghiên cứu cho thấy trước khi điều trị, các kháng thể PCNA xuất hiện trong tất cả các lớp của da và sau quá trình điều trị bằng trà xanh chỉ thấy kháng thể này ở lớp da cơ bản bên ngoài. Đây là một kết quả cho chúng ta sự bất ngờ và hy vọng lớn về tác dụng của trà xanh trong việc điều trị căn bệnh vẩy nến trong tương lai.

BS NGUYỄN ĐỨC HOẠT
Phòng y tế quận 4
Theo Medical News





Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG CAO, BÉO PHÌ, NHIỀU NGUY CƠ CÓ CỤC MÁU ĐÔNG TRONG MẠCH MÁU NHỎ NGOẠI BIÊN

        Những người đàn ông có chiều cao mà béo phì thì trong mạch máu nhỏ, mạch máu vùng sâu trong cơ thể có nhiều nguy cơ hình thành cục máu đông, đây là trường hợp đặc biệt nguy hiểm cho giới đàn ông. Điều này được các nhà nghiên cứu người Na-uy xuất bản trong tạp chí chuyên đề sinh học về động mạch, máu đông và hạch bạch huyết.
         Nhiều nhà nghiên cứu trên thới giới cho rằng những người béo phì thì có nguy cơ cao về hình thành cục máu đông trong mạch máu ở ngoại biên trong cơ thể, đặc biệt là ở vùng thấp như chi dưới, cũng như là những cục máu đông trong hệ mạch máu ở phổi mà có thể làm ảnh hưởng đến tim mạch và gây cơn đột tử.


        Nhóm nghiên cứu ở trường đại học Tromso ở Na-Uy đã có một sự so sánh nguy cơ hình thành cục máu đông ở những người đàn ông béo phì cao và thấp, những người đàn bà béo phì cao và thấp, và những người đàn ông và đàn bà có chiếu cao và cân nặng bình thường. Kết quả nghiên cứu cho nguy cơ như sau:


- Những người đàn ông cao, béo phì có nguy cơ 5,28 lần


- Những người đàn bà cao, béo phì có nguy cơ 2,77 lần


- Những người đàn ông cao cân nặng bình thường nguy cơ 2,57 lần

- Những người đàn bà cao cân nặng bình thường không có nguy cơ

- Những người đàn ông thấp béo phì có nguy cơ 2,11 lần

- Những người đàn bà thấp béo phì có nguy cơ 1,83 lần

Họ tìm thấy một điều nguy cơ hình thành cục máu đông nhiều ở những nhóm người có chiều cao, đặc biệt là nam, ở phụ nữ thì thường thấy ở những người mang thai, uống thuốc ngừa thai thường xuyên, hoặc có gen từ gia đình có tiền sử có cục máu đông.

BS Nguyễn Đức Hoạt
(Phòng y tế quận 4)
Medical news (29/4/2011)



Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CẦN QUAN TÂM TRONG RỐI LOẠN TIÊU HÓA Ở TRẺ EM

         Hệ tiêu hóa bao gồm: miệng, thực quản, dạ dày, ruột, tụy, gan. Như vậy khi bị rối loạn tiêu hóa ta liên tưởng ngay đến sự rối loạn của các cơ quan này. Các bệnh lý và triệu chứng thường thấy nhất ở trẻ mà ta có thể gọi là rối loạn tiêu hóa như: tiêu chảy, táo bón, nôn ói, đau bụng, đầy hơi, ăn không tiêu, cầu phân sống…

        Tuyến nước bọt phát triển chưa hoàn thiện, dịch vị dạ dày giống như người lớn nhưng chất lượng và khối lượng kém hơn. Răng chưa phát triển và hiện tượng mọc răng phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng của mẹ và em bé… nên quá trình tiêu hóa và hấp thu thức ăn ở trẻ dài và chậm hơn người lớn.


        Thành thực quản mỏng, đàn hồi kém do lớp cơ chưa phát triển nhất là cơ tâm vị còn lỏng lẽo, dạ dày còn nằm ngang do đó trẻ khó giữ được thức ăn trong dạ dày, dể bị ọc, nôn do tác động bên ngoài như bế, ẵm và sóc mạnh sau ăn no.

         Hệ miễn dịch ở trẻ em chưa hoàn thiện, khả năng đề kháng với bệnh tật kém, đặc biệt là hệ hô hấp dể cảm thụ với môi trường bệnh tật bên ngoài, chính vì vậy bệnh lý viêm nhiễm đường hô hấp ở trẻ em chiếm tỷ lệ khá cao, và đây là nguyên nhân trẻ phải dùng kháng sinh khá nhiều hiện nay, chính các loại kháng sinh này đã giết chết các nhóm khuẩn có lợi cho đường ruột của trẻ, dẫn đến trẻ dể bị sình bụng, đầy hơi khó tiêu, đi phân sống, tiêu chảy và rối loạn tiêu hóa.

          Nhìn chung chức năng của bộ máy tiêu hóa ở trẻ nhỏ chưa phát triển hoàn toàn và đầy đủ, cộng thêm những yếu tố khác như: kiến thức hạn chế của bà mẹ, sai lầm cách sử dụng nguồn sữa cho bé, thực phẩm không vệ sinh và an toàn, thức ăn không thích hợp theo độ tuổi… tất cả tác động đưa đến tình trạng trẻ em bị rối loạn tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao.


BS Nguyễn Đức Hoạt
(Phòng y tế quận 4)

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

GIA VỊ BỘT CÀ RI CÓ THỂ NGĂN CHẶN ĐƯỢC SỰ HỦY TẾ BÀO GAN

BỘT CÀ RI
Curcumin, một chất hóa học đem lại cho cà ri sự hấp dẫn của nó, và cũng mang lại một sự hứa hẹn trong việc ngăn ngừa và điều trị sự hủy tế bào gan trong bệnh lý mà chúng ta được biết như là gan nhiễm mỡ, đó là nghiên cứu mới của Viện đại học Saint Louis ở Mỹ.

Curcumin là một chất có trong cây nghệ, một loại cây trồng được người Trung Quốc dùng làm thuốc đông y từ hàng nghìn năm nay. Nghiên cứu nổi bật gần đây nhất của Trung tâm nghiên cứu đại học Saint Louis về chất liên quan bệnh lý gan nhiễm mỡ có tên gọi là non-alcoholic steathepatitis (NASH). Liên quan đến sự béo phì và tăng cân nhanh của cơ thể, chất NASH ảnh hưởng 3 đến 4% người Mỹ trưởng thành và có thể dẫn đến một loại bệnh lý hủy tế bào gan mà dần dẫn đến xơ gan, viêm gan mạn tính, ung thư gan và tử vong.


Tiến sĩ Anping Chen ở viện đại học Saint Louis nói: “lấy mẫu tế bào gan bị xơ đem vào phòng thí nghiệm phân tích, mục tiêu nghiên cứu và tìm ra một cách tự nhiên để ngăn chặn và điều trị sự hủy hoại tế bào gan”. Nghiên cứu thử nghiệm trên động vật và con người và có kết luận rằng Curcumin trong củ nghệ là một chất có tác dụng hiệu quả trong việc ngăn chặn và điều trị bệnh xơ gan mà có liên quan đến chất NASH.


Tìm thấy trên con người, ở những bệnh nhân béo phì và tiểu đường dạng 2 một hàm lượng rất cao chất Leptin, Insulin, và Đường, mà có thể là nguyên nhân dẫn đến bệnh lý xơ gan. Những thí nghiệm của Tiến sĩ Chen về chất Curcumin trong cây nghệ có vai trò tác động vào chất Leptin nguyên nhân chính gây bệnh lý xơ gan. Ông Chen khẳng định: chất Leptin đóng một vai trò chính trong việc phát sinh bệnh lý xơ gan và chất Curcumin có thể ức chế được chất Leptin.

Số lượng chất Leptin cao trong máu tác động vào các tế bào gan có hình dạng sao, đó là những tế bào gây ra sư tăng sản quá mức các protein tạo keo đó là động cơ thúc đẩy các tế bào gan bị xơ hóa. Và các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một trong số những hoạt động khác, đó là chất Curcumin trong củ nghệ thì hạn chế được tác hại của chất Leptin vào tế bào hình sao trong gan gây quá trình xơ gan.


BS Nguyễn Đức Hoạt
(Phòng y tế quận 4)
theo Medical News

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2011

KHÁM BỆNH PHÁT QUÀ TỪ THIỆN TẠI XÃ TÂN TÂY, HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG (20/3/2011)

ĐOÀN KHÁM BỆNH TỪ THIỆN THIÊN ÂN TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG - TIỀN GIANG
CÁC BÁC SĨ CHUẨN BỊ CHO CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH
NHỮNG MẠNH THƯỜNG QUẬN ĐANG SẮP XẾP QUÀ PHÁT CHO DÂN NGHÈO
BAC SĨ HÙNG TRƯỞNG ĐOÀN KHÁM BỆNH TỪ THIỆN THIÊN ÂN ĐANG ĐIỀU ĐỘNG VÀ SẮP XẾP NƠI KHÁM BỆNH VÀ PHÁT QUÀ CHO DÂN NGHÈO XÃ TÂN TÂY HUYỆN GÒ CÔNG ĐỘNG
CÁC BÁC SĨ ĐANG CHUẨN BỊ CHO CÔNG TÁC KHÁM BỆNH

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

NHỮNG NGƯỜI BÉO ĐANG TRONG TRẠNG THÁI TÂM THẦN BUỒN CHÁN THÌ RẤT KHÓ GIẢM ĐƯỢC CÂN

       Nếu như bạn đang cố gắng làm giảm cân, mà bạn đang trong trạng thái cảm giác buồn chán thì càng khó khăn hơn trong việc thực hiện giảm cân. Theo các nhà nghiên cứu của Trường đại học washington, và tường thuật của Bệnh viện Tâm Thần học tổng quát Seattle ở Mỹ. Họ đã nhận thấy rằng: một người dư cân thì chắc chắn rằng có nguy cơ tâm thần buồn chán cao hơn một người có cân nặng bình thường ở cùng lứa tuổi và chiều cao.
       Tiến sỹ Gregory Dimon và đội nghiên cứu đã ghi nhận trên 203 người đàn bà béo phì trong thời gian là 12 tháng. Tất cả họ ở tuổi 40 đến 60 tuổi và có những dấu hiệu tâm thần của sự buồn chán. Tất cả họ có chỉ số BMI trên 30, mức trung bình là 38,3.


Chỉ số BMI = cân nặng/chiều cao bình phương
Cân nặng tính bằng kg

Chiều cao tính bằng cm

Chỉ số BMI từ 18 - 24,9 cân nặng bình thường và lý tưởng;

BMI từ 25 – 29,9 thừa cân;


BMI trên 30 béo phì.


Ví dụ một người có chiều cao là 1,65m và cân nặng 75kg


Ta có chỉ số BMI= 75/(1,65)2 = 27,5 , nhận xét người này thừa cân.


Những người đàn bà thừa cân được chia thành 2 nhóm: nhóm giảm cân mà không có trạng thái tâm thần thất vọng, chán nản, và nhóm giảm cân với trạng thái buồn chán. Thì cả hai nhóm đều nổi bậc lên sự giảm cân sau đó nhưng nhóm đàn bà thừa cân có trạng thái tâm thần buồn chán phải được điều trị tâm lý tích cực.


Trong cả 2 nhóm được chia làm 26 phân nhóm nhỏ, và nghiên cứu trong thời gian một năm, kết quả nghiên cứu được đánh giá lúc 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng, các dữ liệu đánh giá bao gồm đo lường cân nặng cơ thể, những dấu hiệu tâm thần buồn chán, sự tường thuật của người đang được nghiên cứu, các hoạt động thể hình, và đánh giá lượng calori vào cơ thể. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng: sự thất vọng chán nản thường làm con người hạn chế sự vận động thể hình, những người đàn bà có tâm trạng buồn chán thường ít tập thể dục, ít vận động thậm chí có người lại ăn uống nhiều hơn và họ không nhận ra được sự tăng cân nhanh như thế nào! Trong khi họ luôn phủ nhận nguyên nhân của sự tăng cân là do tình trạng tâm lý thất vọng và chán nản.


Trong 6 tháng đầu tiên các nhà nghiên cứu nhận thấy có 30% người đàn bà có tâm trạng chán nản thất vọng có giảm 5% cân nặng cơ thể, và phần còn lại thì không có hiện tượng tăng cân thêm. Những người đàn bà mà được điều trị tâm lý về tâm trạng buồn chán, thì ít nhất giữ được cân nặng không tăng trong vòng 12 đến 24 tháng.


Quan tâm trạng thái tâm lý, áp dụng các phương pháp điều trị tâm lý cho người qúa cân và béo phì là một phương pháp cần thiết để làm giảm cân có hiệu quả. Quan điểm này thật sự rất quan trọng cho những người đang làm chương trình giảm béo.


Theo Medical News
Ngày 13/12/2010
Người dịch: BS Nguyển Đức Hoạt
(Phòng Y tế quận 4)